More
    HomeGóc Nhìn Xã HộiHoàng Sa và Trường Sa Sau Chiến Tranh Thế Giới Thứ Hai:...

    Hoàng Sa và Trường Sa Sau Chiến Tranh Thế Giới Thứ Hai: Chủ Quyền Biển Đông Từ 1938 (Phần 1)

    Published on

    spot_img

    Tuyên bố của Thủ tướng Chính phủ “Quốc gia Việt Nam” Trần Văn Hữu tại Hội nghị San Francisco ngày 7/9/1951 đã khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, vốn thuộc cương vực Việt Nam từ bao đời nay.

    Nhật Bản chiếm đóng Hoàng Sa năm 1938 và Trường Sa năm 1939

    Mặc dù tham vọng đối với các hòn đảo ở Biển Đông đã có từ trước năm 1938, nhưng Nhật Bản chưa từng thực hiện bất kỳ hành động chiếm hữu nào. Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ là cơ hội để Nhật Bản hiện thực hóa tham vọng đó.

    Năm 1938, hải quân Nhật chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa, đổi tên thành Hirata Gunto. Cụ thể, Nhật Bản chiếm đảo Phú Lâm, hòn đảo lớn nhất trong quần đảo Hoàng Sa, biến nơi đây thành căn cứ tàu ngầm để kiểm soát phía bắc Biển Đông. Hành động này vấp phải sự phản đối từ chính quyền Đông Dương.

    Vào ngày 31/3/1939, chính phủ quân phiệt Nhật Bản gửi thông báo tới đại sứ Pháp tại Tokyo, tuyên bố đã chiếm đóng Trường Sa vào ngày 30/3/1939. Nhật Bản đổi tên quần đảo thành Shinnan Shoto (Quần đảo phía Nam mới) và đặt dưới sự cai quản của Toàn quyền Nhật tại Cao Hùng, Đài Loan. Nhật Bản lập luận rằng không có chính quyền địa phương nào có chủ quyền tại Trường Sa và họ là những người đầu tiên thám hiểm quần đảo này vào năm 1917.

    Quyết định chiếm đóng ban đầu chỉ trên giấy tờ, nhưng đến năm 1941, hải quân Nhật đổ bộ và cưỡng chiếm đảo Ba Bình (Itu Aba), đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa. Ba Bình có vị thế quân sự chiến lược quan trọng đối với Biển Đông trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Nhật Bản xây dựng căn cứ cho thủy phi cơ, tàu chiến và tàu ngầm tại đây nhằm kiểm soát toàn bộ quần đảo Trường Sa. Từ các căn cứ hải quân ở Ba Bình và Phú Lâm, đầu năm 1942, hải quân Nhật đã tiến đánh các nước Đông Nam Á và đạt được những thắng lợi lớn.

    Ngày 4/4/1939, Bộ Ngoại giao Pháp gửi công hàm phản đối hành động của Nhật Bản, khẳng định bảo lưu chủ quyền của Pháp tại cả Hoàng Sa và Trường Sa. Pháp nhận được sự ủng hộ từ Anh trong cuộc tranh luận tại Hạ nghị viện ngày 5/4/1939, khi đại diện Bộ Ngoại giao Anh tuyên bố Pháp đã thực thi đầy đủ chủ quyền đối với Trường Sa và mọi vấn đề liên quan đến quần đảo này là mối quan tâm chính của Pháp.

    Dưới áp lực chiến tranh từ Đức tại Pháp và Nhật tại Đông Dương, ngày 5/5/1939, Toàn quyền Đông Dương Jules Brévié ký Nghị định số 3282, sửa đổi Nghị định số 156/SC ngày 15/6/1932, nhằm tách Hoàng Sa thành hai đơn vị hành chính độc lập: Nhóm đảo Nguyệt Thiềm (Croissant) và các đảo phụ cận ở phía tây, và Nhóm đảo An Vĩnh (Amphytrite) và các đảo phụ cận ở phía đông. Về mặt hành chính và pháp lý, Pháp vẫn quản lý toàn bộ Hoàng Sa và đặt trụ sở tại đảo Pastle (Hoàng Sa), đại diện cho Nhóm đảo Nguyệt Thiềm phía tây. Tuy nhiên, trong thời điểm đó, Pháp gần như không có động thái nào đáng kể do tình thế yếu của mình trước sự hung hăng của chủ nghĩa Phát xít.

    Nhóm đảo An Vĩnh với trụ sở tại đảo Phú Lâm, lúc đó do Nhật kiểm soát. Cả quân Pháp và Nhật đều xây dựng cơ sở phòng thủ tại các đảo thuộc Trường Sa và Hoàng Sa, do đó một số đảo ở đây thường xuyên bị máy bay quân Đồng minh ném bom trong Chiến tranh thế giới thứ hai.

    Hoàng Sa và Trường Sa sau Chiến tranh Thế giới thứ hai

    Ngày 22/6/1940, Pháp ký thỏa thuận ngừng bắn với Đức Quốc xã, chính phủ Vichy được thành lập và thừa kế cai trị Đông Dương, bao gồm cả Trường Sa và Hoàng Sa, những nơi Nhật Bản đang chiếm đóng. Trong đất liền, Nhật Bản gây áp lực buộc chính phủ Vichy đóng cửa tuyến đường sắt Hải Phòng – Vân Nam để cắt viện trợ cho Trung Quốc từ khối Đồng minh. Tháng 9/1940, Nhật tràn qua biên giới vào Việt Nam và chiếm đóng Lạng Sơn, Hà Nội, Hải Phòng, thể hiện sự bất lực của Pháp.

    Đến đầu năm 1942, hải quân Nhật Bản, với sự góp mặt của tàu sân bay, đã giành nhiều thắng lợi lớn trên Biển Đông, Biển Java và Ấn Độ Dương. Cùng với đồng minh Thái Lan, Nhật Bản chinh phục gần như toàn bộ Miến Điện, Malaysia, Singapore, Papua New Guinea và Philippines, gây tổn thất nặng nề cho quân Đồng minh. Tuy nhiên, từ giữa năm 1942, sau khi giải mã thành công mật mã của hải quân Nhật, quân đội Mỹ bắt đầu giành chiến thắng trong trận Midway ở giữa Thái Bình Dương. Đầu năm 1943, quân Nhật bị đánh bại ở New Guinea và buộc phải rút khỏi đảo này. Trên lục địa châu Á, sau khi tiến sâu vào các thuộc địa của Anh, Nhật gặp phải sự kháng cự mãnh liệt tại Miến Điện.

    Ngày 9/3/1945, khi Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương, quân Nhật ở Phú Lâm cũng tràn sang tước vũ khí trung đội quân Pháp đồn trú ở đảo Pastle (Hoàng Sa) và bắt nhiều lính Lê dương làm tù binh. Các công chức đài khí tượng ở đảo Hoàng Sa được thả và tự tìm cách trở về đất liền.

    Cục diện chiến tranh ở châu Âu và châu Á đã thúc đẩy các nước Đồng minh gặp gỡ để thảo luận về vị thế trong mặt trận chống Nhật Bản và dự thảo những quyết định về châu Á khi chiến tranh kết thúc.

    Tuyên bố Cairo ngày 1/12/1943 và Tuyên ngôn Potsdam ngày 26/7/1945

    Tuyên bố Cairo ngày 1/12/1943

    Để chuẩn bị lập trường chung cho Hội nghị Teheran về vấn đề lãnh thổ bị Nhật Bản chiếm đóng tại châu Á, năm 1943, Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt, Thủ tướng Anh Winston Churchill và Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc Tưởng Giới Thạch đã họp hội nghị tại Cairo, Ai Cập từ ngày 22 đến ngày 27/11/1943. Tuyên bố Cairo, được Hoa Kỳ soạn thảo và sửa chữa, đã được Hội nghị chấp thuận và công bố rộng rãi vào ngày 1/12/1943. Chính sách hậu chiến của phe Đồng minh đối với Nhật Bản trong Tuyên bố Cairo được xem là chính sách cơ bản thể hiện quyền lực của phe Đồng minh.

    Bản Tuyên bố Cairo đã được Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô Stalin nhất trí ngày 30/11/1943 và được khẳng định lại một lần nữa trong Tuyên ngôn Potsdam ngày 26/7/1945.

    Nội dung đáng chú ý của Tuyên bố Cairo năm 1943 được lưu giữ tại Thư viện Quốc hội Nhật Bản nêu rõ: “Ba Đồng minh vĩ đại đang chiến đấu để ngăn cản và trừng phạt cuộc xâm lăng của Nhật Bản. Họ không ham muốn lợi ích gì cho bản thân và không nghĩ đến việc bành trướng lãnh thổ. Mục tiêu của họ là hất cẳng Nhật Bản ra khỏi tất cả các hòn đảo thuộc Thái Bình Dương mà nước này đã cưỡng chiếm hoặc chiếm đóng từ khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bắt đầu vào năm 1914, và tất cả các lãnh thổ mà Nhật Bản đã chiếm đoạt từ người Trung Quốc như Mãn Châu, Đài Loan và quần đảo Bành Hồ phải được trao trả cho Trung Hoa Dân Quốc. Nhật Bản cũng sẽ bị trục xuất khỏi tất cả các vùng lãnh thổ mà nước này đã chiếm được bằng vũ lực và lòng tham. Nhận thức được ách nô lệ mà nhân dân Triều Tiên đang phải chịu đựng, ba cường quốc trên đây kiên định rằng Triều Tiên phải được tự do và độc lập.”

    Trong Tuyên bố Cairo năm 1943, rõ ràng không hề có bất kỳ nội dung nào nói rằng Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Trung Quốc. Chính Tưởng Giới Thạch, với tư cách Tổng thống và đại diện cao nhất của Trung Quốc, đã ký vào văn bản Tuyên bố này. Điều đó cho thấy ông hiểu rõ Hoàng Sa và Trường Sa không thuộc chủ quyền Trung Hoa.

    Tuyên ngôn Potsdam ngày 26/7/1945

    Hội nghị Potsdam được tổ chức tại Potsdam, Đức, từ ngày 17/7 đến ngày 2/8/1945 với sự tham gia của đại diện ba nước: Mỹ (Tổng thống Harry Truman), Liên Xô (Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Joseph Stalin) và Anh (Thủ tướng Winston Churchil, sau đó là tân Thủ tướng Clement Attlee). Ngày 26/7/1945, Churchil, Truman cùng với Thống chế Tưởng Giới Thạch của Trung Hoa Dân Quốc đã đưa ra Tuyên ngôn Potsdam, vạch rõ những điều kiện buộc Nhật Bản phải đầu hàng.

    Tưởng Giới Thạch sau đó khẳng định các điều khoản của Tuyên bố Cairo sẽ được thực hiện. Tuyên ngôn Potsdam về “các điều kiện cho sự đầu hàng của Nhật” tương tự như một tối hậu thư đối với Nhật Bản.

    Liên quan đến việc Nhật Bản phải từ bỏ chủ quyền và trả lại lãnh thổ đã chiếm đóng trong chiến tranh, điều này được đề cập trực tiếp tại Điều 8 của Tuyên ngôn Mỹ – Anh – Trung ngày 26/7/1945 tại Potsdam. Điều này cho thấy Trung Quốc đã hài lòng với một khẳng định không có Hoàng Sa và Trường Sa trong phần thưởng hậu chiến. Điều 8 của Tuyên ngôn nêu rõ: “Các điều khoản của Tuyên bố Cairo sẽ được thực hiện và chủ quyền của Nhật Bản được giới hạn ở các đảo Honshu, Hokkaido, Kyushu, Shikoku và các đảo nhỏ do chúng tôi xác định.”

    Như thỏa thuận đã ghi trong Tuyên bố Cairo năm 1943, sau chiến tranh các lãnh thổ từng bị Nhật chiếm là Mãn Châu, Đài Loan và Bành Hồ sẽ được trả lại cho Trung Hoa. Khoản 8 của Tuyên bố Cairo năm 1943 được trích lại rõ ở Tuyên ngôn Potsdam. Điều đó cho thấy tính pháp lý quốc tế của Tuyên bố Cairo: Không có dòng chữ nào nói thêm rằng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa sẽ được giao cho Trung Quốc như cách Trung Quốc giải thích gần đây. Trung Hoa Dân Quốc là một thành viên nòng cốt tham gia Hội nghị Cairo nhưng cũng không hề có bất cứ một bảo lưu hoặc một tuyên bố hay yêu sách riêng rẽ nào về phần lãnh thổ được trả lại. Có thể coi Tuyên bố Cairo năm 1943 và Tuyên ngôn Potsdam năm 1945 là sự khẳng định gián tiếp rằng, các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, từ xưa đến nay đều không phải là lãnh thổ của Trung Hoa.

    Tại Hội nghị Potsdam, Mỹ, Liên Xô và Anh còn thỏa thuận chia Đông Dương làm hai khu vực giải giáp quân đội Nhật Bản với vĩ tuyến 16 làm giới tuyến: khu vực phía Bắc giao cho quân đội Trung Hoa Dân Quốc, khu vực phía Nam giao cho Liên quân Anh – Ấn.

    Quyết định việc giải giới quân Nhật ngày 15/8/1945 và lãnh thổ thu hồi từ quân phiệt Nhật sẽ được trả lại cho chủ cũ

    Tại Hội nghị Potsdam từ ngày 17/7 đến ngày 2/8/1945, Tham mưu trưởng Liên quân Đồng minh đã quyết định phân vùng tạm thời tại Việt Nam nhằm tạo thuận tiện cho hoạt động. Các bên đồng ý rằng các lực lượng Anh sẽ giải giới quân đội Nhật Bản ở Sài Gòn và nửa phía nam Đông Dương. Còn nửa phía bắc, các lực lượng Nhật Bản sẽ do Trung Quốc giải giới.

    Trong ngày 15/8/1945, Bộ Tư lệnh tối cao Mỹ/Anh, dựa theo nghị quyết quân sự Hội nghị Potsdam, đã ra mệnh lệnh số 1 cho Đại tướng Mc Arthur, Tư lệnh chiến trường Thái Bình Dương. Điều 1A của mệnh lệnh quy định: “Các tư lệnh cấp cao Nhật Bản và tất cả các lực lượng hải quân, lục quân, không quân và các lực lượng phụ thuộc trong phạm vi Trung Hoa (trừ Mãn Châu), Đài Loan và Đông Dương thuộc Pháp ở Bắc vĩ tuyến 16 sẽ đầu hàng Tổng tư lệnh Tưởng Giới Thạch.” Điều 1C quy định: “Các tư lệnh cấp cao Nhật Bản và tất cả các lực lượng hải quân, lục quân, không quân và các lực lượng phụ thuộc trong phạm vi Andamnus, Nicobars, Miến Điện, Thái Lan, Đông Dương thuộc Pháp ở Nam vĩ tuyến 16, Malaysia, Bornéo và các đảo nhỏ trên Thái Bình Dương sẽ đầu hàng Đô đốc Maubetton/Bộ chỉ huy Đông Nam Á (SEAC), trừ Indonesia sẽ đầu hàng Tư lệnh tối cao Đồng minh ở Thái Bình Dương, Đại tướng Mc Arthur.”

    Hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm hoàn toàn ở phía Nam vĩ tuyến 16 nên ngoài phạm vi trách nhiệm của Trung Hoa Dân Quốc. Theo tinh thần thỏa thuận của Lực lượng Đồng minh và Hiến chương Liên hợp quốc, những lãnh thổ thu hồi từ quân phiệt Nhật sẽ được trả lại cho chủ cũ từng bị Nhật xâm chiếm. Nghĩa là, Quần đảo Hoàng Sa và Quần đảo Trường Sa sẽ phải được trả lại cho Pháp và Việt Nam.

    Ngày 9/10/1945, Cao ủy Pháp tại Đông Dương D’Argenlieu và Đại tướng Douglas David Gracey đã ký biên bản thỏa thuận việc Anh bàn giao cho Pháp nhiệm vụ thay mặt Đồng minh chiếm đóng toàn bộ miền Nam Đông Dương phía Nam vĩ tuyến 16.

    Trong tối hậu thư Potsdam mà Hoa Kỳ, Anh và Trung Hoa gửi cho Nhật Bản ngày 26/7/1945, không đề cập ai sẽ cai trị Đông Dương sau khi quân đội Nhật bị giải giới. Tình huống này đã tạo ra khoảng trống chính trị. Pháp không bỏ lỡ cơ hội này để thương thảo với Anh và Trung Quốc tái chiếm Việt Nam. Việc trao trả lãnh thổ vùng Tô giới Quảng Châu Loan thuộc Bắc Bộ đã phản ánh một phần tình hình. Đơn vị đầu tiên trong phái bộ quân sự Anh đến Sài Gòn vào ngày 6/9/1945, tức là sau ngày Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố độc lập bằng Bản Tuyên ngôn lịch sử ngày 2/9/1945 tại Hà Nội.

    Latest articles

    Thượng Viện Mỹ phê chuẩn thẩm phán gốc Việt Jacqueline Nguyễn

    Thượng Viện Mỹ phê chuẩn thẩm phán gốc ViệtThượng Viện Mỹ đã nhất loạt...

    Hoàng Sa và Trường Sa sau Chiến tranh Thế giới thứ hai (Phần 1)

    Nhật Bản chiếm đóng Hoàng Sa năm 1938 và Trường Sa năm 1939 ...

    Trung tâm Chăm sóc Sức khỏe Ban ngày VAS: Nơi cộng đồng người Việt tìm thấy sự an tâm

    Trung tâm Chăm sóc Y tế Ban ngày dành cho Người lớn VAS, được...

    Chân dung Alex Jeffrey Pretti: Y tá tử nạn trên đường phố Minneapolis

    Bi kịch tại Minneapolis: Alex Jeffrey Pretti, Y tá bị bắn chết giữa đường...

    More like this

    Thượng Viện Mỹ phê chuẩn thẩm phán gốc Việt Jacqueline Nguyễn

    Thượng Viện Mỹ phê chuẩn thẩm phán gốc ViệtThượng Viện Mỹ đã nhất loạt...

    Hoàng Sa và Trường Sa sau Chiến tranh Thế giới thứ hai (Phần 1)

    Nhật Bản chiếm đóng Hoàng Sa năm 1938 và Trường Sa năm 1939 ...

    Trung tâm Chăm sóc Sức khỏe Ban ngày VAS: Nơi cộng đồng người Việt tìm thấy sự an tâm

    Trung tâm Chăm sóc Y tế Ban ngày dành cho Người lớn VAS, được...